Tin tức BSR

“Thành – chưng cất dầu thô”
Ngày đăng : 31/10/2017 * Lượt xem: 13283
   

Trong năm 2013, Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đồng ý để anh em kỹ sư Ban Vận hành Sản xuất, Nghiên cứu Phát triển, Bảo dưỡng sửa chữa nghiên cứu, ứng dụng các sáng kiến cải tiến nâng công suất nhà máy lên 110% công suất. Phân xưởng Chưng cất dầu thô (CDU) được chạy thử nghiệm nâng công suất, các sản phẩm đều đạt tiêu chuẩn đặt ra, các thiết bị hoạt động trong giới hạn an toàn. Sự táo bạo này cùng hàng chục sáng kiến khác đã giúp NMLD Dung Quất duy trì công suất liên tục 105% suốt nhiều năm qua, khẳng định sự trưởng thành và nắm bắt khoa học công nghệ của anh em kỹ sư BSR. Trong số ấy, có một cái tên mà khi đọc lên nhiều người gắn luôn với nơi anh công tác, đó là kỹ sư Phan Minh Thành – chưng cất dầu thô.

Anh trưởng thành từ vị trí Trưởng ca giám sát chạy thử tại phân xưởng CDU-KTU, rồi kinh qua một năm làm nhân  viên  vận  hành  chính  tại phòng  điều  khiển  phân  xưởng CDU-KTU-FGS trước khi có 5 năm làm Trưởng ca vận hành phân xưởng CDU-KTU-FGS và bây giờ là kỹ sư giám sát vận hành phân xưởng CDU-KTU-FGS. 11 năm làm việc, Thành thuộc phân xưởng CDU như lòng bàn tay, có thể đọc vanh vách chức năng, nhiệm vụ của hàng trăm thiết bị tại phân xưởng. Với NMLD Dung Quất, Thành là kỹ sư giỏi nghiệp vụ, am hiểm tường tận kỹ thuật lọc dầu. Chính vì thế, việc anh có đến 3 đồng sáng kiến, làm lợi tổng cộng hơn 796 tỷ đồng trong 5 năm qua, quả là điều… hiếm.

Kỹ sư Phan Minh Thành chỉ đạo sản xuất ngoài công trường

Hiện tại, Thành được trao nhiệm vụ theo dõi các thông số công nghệ vận hành hằng ngày (daily operation) của cụm phân xưởng nhằm đảm bảo phân xưởng vận hành an toàn, ổn định và hiệu quả, tăng tối đa hiệu suất của nhà máy đúng như theo hướng dẫn vận hành hằng ngày (daily instruction). Công tác vận hành phân xưởng CDU-KTU-FGS trơn tru góp phần đưa nhà máy hoàn thành sớm chỉ tiêu kế hoạch năm 2016, đạt mốc 5,83 triệu tấn sản phẩm xăng dầu các loại và về đích sớm so với kế hoạch 52 ngày.

Theo Thành, nhân sự vận hành của NMLD có kiến thức sâu, theo thời gian họ được rèn luyện, khẳng định năng lực và phải trao cơ hội để anh em trưởng thành. Bản thân Thành cũng được trao nhiều cơ hội khẳng định năng lực bản thân và anh đã có nhiều sáng kiến hay. Sáng kiến có giá trị nhất là đề tài “Nghiên cứu giải pháp giảm nhiệt độ tường lò, giảm nhiệt độ khí thải và tiết kiệm nhiên liệu cho lò gia nhiệt H-1101 tại phân xưởng Chưng cất dầu thô (CDU – crude distil unit)”. Theo thiết kế ban đầu, điều kiện làm việc bình thường của lò gia nhiệt (BWT-Bridge Wall Temperature) tại phân xưởng CDU tại 100% công suất là 8150C, nhiệt độ khí thải (Flue Gas Temperature) là 2780C. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành thương mại, nhiệt độ này luôn cao hơn giá trị trên, làm lãng phí nhiên liệu, gây quá tải, hư hỏng các lớp refractory, hangers,… trong lò đốt. Đồng thời khó có khả năng tăng công suất của CDU lên trên 100%. Đứng trước “bài toán” khó này, Thành và những đồng nghiệp như kỹ sư Kỹ sư Đào Xuân Giỏi, Nguyễn Nhanh, Bùi Tá Vũ nghiên cứu tìm ra giải pháp để giảm tối đa các giá trị nhiệt độ này xuống dưới giá trị cho phép mà vẫn đảm bảo điều kiện làm việc tốt cho lò gia nhiệt H-1101, giảm hỏng hóc, tiết kiệm năng lượng và luôn đáp ứng được các chỉ tiêu về chất lượng của sản phẩm. Việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi để tăng công suất chế biến của Nhà máy lên 105% so với công suất thiết kế ban đầu mà các giá trị nhiệt độ này vẫn nhỏ hơn 815 0C và 278 0C.

Lò gia nhiệt H-1101 đóng vai trò quan trọng, có nhiệm vụ nâng nhiệt độ dầu thô tới nhiệt độ chưng cất. Theo tính toán từ phòng Điều độ Sản xuất, hàng tháng lượng khí Fuel Gas tiêu thụ ở lò gia nhiệt H-1101 là 4,71 triệu USD tại 105 % công suất. Hơn nữa, phân xưởng Chưng cất dầu thô CDU luôn có mức tiêu thụ năng lượng phụ trợ cao nhất trong tất cả các phân xưởng. Vì vậy, việc tìm kiếm giải pháp để thực hiện tối ưu hoá trong quá trình vận hành có ý nghĩa rất lớn trong việc tiết kiệm, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế cho Nhà máy.

Công việc tối ưu hóa được chia làm hai giai đoạn. Trong 2011 giảm nhiệt độ tường lò xuống dưới 8150C. Trước đây, trong quá trình mới vận hành thương mại Nhà máy, việc điều chỉnh nhiệt độ tường lò của thiết bị H-1101 và nhiệt độ khí thải về lại giá trị 8150C và 2780C gần như là không thể thực hiện được. Chính vì vậy, trong năm 2011 BSR và SKE cho phép tăng nhiệt độ của tường lò từ 8150C lên 8500C. Sau đó, trong quá trình vận hành tại 100% công suất thì giá trị này vẫn cao hơn 8500C và các bên đã tính toán lại thì nhiệt độ tường lò có thể chịu đựng được tới 8710C.  Tuy nhiên, theo tác giả thì hoàn toàn có thể vận hành lò gia nhiệt tại nhiệt độ 8150C.

Sau một thời gian dài tìm hiểu quy luật hoạt động tháp chưng cất T-1101 cùng với tính chất của dầu thô và yêu cầu chất lượng sản phẩm từ phòng Điều độ Sản xuất. Nhóm tác giả đã thực hiện điều chỉnh các thông số làm việc như tăng cường trao đổi nhiệt các dòng bơm tuần hoàn (HGO P/A, LGO P/A, Kero P/A, Top P/A); Điều chỉnh hình dáng ngọn lửa (Flame shape), Air register để đảm bảo đốt cháy hoàn toàn. Ngoài ra còn một số điều chỉnh như độ thông gió (Draft); Hàm lượng O2 dư; Stripping steam vào đáy tháp T-1101 và các tháp tách cạnh sườn Strippers…

Giai đoạn 2 được thực hiện trong năm 2012 giảm nhiệt độ khí thải xuống dưới 2780C. Kết quả đạt được ở giai đoạn 1 là rất quan trọng, tuy nhiên nhiệt độ khí thải vẫn cao hơn 2780C. Tác giả tiếp tục nghiên cứu, thực hiện việc tối ưu hoá các thông số vận hành tại phân xưởng CDU để đưa giá trị nhiệt độ khí thải xuống dưới 2780C, nhằm tăng độ tin cậy, giảm chi phí nhiên liệu và tăng hiệu quả kinh tế. 

Kết quả lưu lượng khí nhiên liệu Fuel Gas tiết kiệm được trong 1 năm khoảng 9,6 triệu USD. Lượng hơi nước tiết kiệm được trong 1 năm khoảng 1,8 triệu USD. Việc cắt giảm hơi nước này sẽ làm giảm lượng nước chua đưa sang phân xưởng SWS để xử lý, giảm nguy cơ quá tải và giảm chi phí xử lý. Nếu được biết, chi phí đầu tư cho sáng kiến này chỉ là hơn 57 nghìn USD thì việc tiết kiệm hơn 11 triệu USD/năm là điều hết sức giá trị (11.298.199,4 USD/năm, tương đương 226 tỷ đồng/năm).

Đề tài này đã được chính thức áp dụng từ 11/2012 và nay vẫn còn nguyên giá trị kinh tế. Việc áp dụng thực tế sản xuất đã nâng cao độ tin cậy của thiết bị H-1101 trong quá trình vận hành, hiệu suất lò vẫn duy trì cao hơn 85% tại công suất là 105%. Trong khi giá trị này mà nhà thầu TPC chỉ công nhận ở 83% tại 100% công suất. Đề tài tạo điều kiện rất thuận lợi để nhà máy tăng công suất chế biến lên 110% mà không gặp trở ngại trong quá trình vận hành lò gia nhiệt H-1101 tại phân xưởng CDU.

Ngoài ra, anh còn có đề tài: “Giải pháp xử lý vấn đề nước cuốn theo từ thiết bị tách muối Desalter đến lò đốt H-1101”. Được biết, chức năng của thiết bị Desalter là tách muối, nước, bùn đất. Sản phẩm đầu ra của thiết bị này là dầu thô đã được tách muối, nước. Dầu thô từ thiết bị tách muối này sẽ đến các thiết bị trao đổi nhiệt trước khi đến lò gia nhiệt để nâng tới nhiệt độ chưng cất. Tuy nhiên từ lúc đưa vào vận hành thương mại, sự cố “nước cuốn theo” (Water carried over from Desalters) với tần xuất ngày càng cao, đặc biệt trong giai đoạn nhà máy tiến hành phối trộn nhiều loại dầu chế biến để thay thế dần nguồn dầu Bạch Hổ.

Theo Phan Minh Thành, hậu quả của sự cố “nước cuốn theo” là nước không được tách ra hoàn toàn mà bị cuốn theo dầu thô đến thiết bị gia nhiệt sẽ làm cho áp suất hệ thống tăng đột biến. Khi đó, dầu thô sẽ rò rỉ ra ngoài gây mất an toàn cho thiết bị, có khả năng gây cháy nổ cao. Toàn bộ hệ thống tháp chưng cất mất ổn định, dao động, chất lượng sẽ sản phẩm không đạt yêu cầu.

Thành và nhóm kỹ sư đưa ra giải pháp tìm giá trị vận hành tối ưu hệ thống tạo nhũ. Các kỹ sư thực hiện các cải hoàn để  làm mỏng lớp nhũ tương như dùng các ống mềm (Flexible Hoses) để kết nối với Try-cock số 2 và xả ra ETP, kết quả lớp nhũ đã mỏng hơn và đưa hệ thống Deslater về điều kiện làm việc rất tốt, sự cố nước cuốn theo đã được kiểm soát ban đầu.Thực hiện cải hoán để “làm mỏng” lớp emulsion trong Desalter thứ 2 vì nếu lớp emulsion này quá dày sẽ đưa nước tới dãy trao đổi nhiệt phía hạ nguồn, gây tăng áp cục bộ dẫn đến rò rỉ nguy cơ cháy nổ cao. Tiếp theo sự thành công của việc kiểm soát lớp nhũ tương trong thiết bị Desalter thứ 2, tác giả tiếp tục cải hoán và xử lý dứt điểm lớp nhũ trong Deslater thứ nhất trong trường hợp chúng dày lên bất thường.

Với sáng kiến này đã xử lý dứt điểm sự cố nước cuốn theo, loại bỏ nguy cơ cháy nổ do áp suất tăng cao khi sự cố này xảy ra. Có 5 “cái lợi” của sáng kiến này: Nâng cao độ tin cậy, tuổi thọ và hiệu suất của thiết bị tách muối, bơm trong quá trình vận hành; Tạo điều kiện rất thuận lợi để nhà máy tăng công suất chế biến lên 110% mà không gặp trở ngại trong quá trình vận hành thiết bị tách muối tại phân xưởng CDU; Lợi nhuận thu được là 37,4 tỷ đồng, với chi phí đầu tư để tăng độ tin cậy cho quá trình làm việc của hệ thống Desalter chỉ là 646 triệu đồng. Đề tài được áp dụng chính thức từ tháng 5/2013.

Anh cũng tham gia cùng đồng nghiệp “Giải pháp thu hồi hoàn toàn dầu thải nhẹ tại (CDU)”, theo tính toán, lưu lượng dầu thải nhẹ trung bình chảy qua bể chứa dầu tràn khoảng 6m3/h. Từ năm 2010, do khi đó mức bể chứa dầu tràn luôn ở mức cao, dầu tràn chỉ được đưa vào chế biến ở CDU với lưu lượng hết sức hạn chế do dầu tràn chứa nhiều tạp chất, làm cho hệ thống tách muối của CDU hoạt động không tốt. Khi sản xuất xăng Jet-A1 thì bắt buộc phải dừng việc chế biến dầu thải này. Các thông số vận hành cho hệ thống tạo chân không luôn biến động dẫn đến lưu lượng dầu tràn không ổn định và khó kiểm soát.

Các kỹ sư đã tối ưu lượng dầu thải sản xuất ra từ tháp D-1106, giảm từ 6 xuống 1,7m3/h. Đồng thời tìm địa điểm thích hợp để tuần hoàn toàn bộ dầu thải về lại Phân xưởng CDU. Từ giữa năm 2012, chấm dứt việc đưa dầu thải ra bể chứa và làm lợi cho Công ty giá trị khoảng 4,6 triệu USD.

Ngày 31/10/2017 tại thành phố Quảng Ngãi, Ban tổ chức Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Quảng Ngãi lần thứ 10 (năm 2016 - 2017) công bố 8 giải pháp kỹ thuật của các tác giả, nhóm tác giả; trong đó “Giải pháp xử lý vấn đề nước cuốn theo từ thiết bị tách muối (Desalter) đến lò giải nhiệt H.1101 tại phân xưởng chưng cất dầu thô CDU của NMLD Dung Quất” của nhóm tác giả Phan Minh Thành (Ban Vận hành Sản xuất BSR, chủ biên) đạt giải Khuyến khích trong Hội thi.

 

 

 

 

 

Đức Chính

Tin liên quan
Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi làm việc với PVN

Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi làm việc với PVN

Ngày 16/11, tại trụ sở Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi đã có buổi làm việc với lãnh đạo PVN về kết quả hợp tác giữa UBND tỉnh Quảng Ngãi và PVN.
Đoàn Thanh niên Tập đoàn làm việc với Đoàn Thanh niên BSR

Đoàn Thanh niên Tập đoàn làm việc với Đoàn Thanh niên BSR

Ngày 15/11/2017, đoàn công tác của Đoàn Thanh niên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam do Bí thư Vũ Thị Thu Hương dẫn đầu đã có buổi làm việc với Đoàn Thanh niên Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR).
BSR tiến tới tự huấn luyện An toàn vệ sinh lao động

BSR tiến tới tự huấn luyện An toàn vệ sinh lao động

Nhà máy Lọc dầu (NMLD) Dung Quất là công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia và cung cấp khoảng 30% nguồn xăng dầu cho cả nước. Công tác đảm bảo an ninh, ATVSLĐ-PCCN cho con người cũng như máy móc, thiết bị, luôn được Công ty Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) đặt lên hàng đầu. Không chỉ làm tốt các nhiệm vụ trên, nhiều năm qua, Công ty BSR đang xây dựng và hướng tới mục tiêu tự huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho Người lao động theo nghị định số 44/2016/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ.