Bản Tin Pháp Lý

9/11 – NGÀY PHÁP LUẬT NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
Ngày đăng : 15/11/2017 * Lượt xem: 84
   

Ngày 20/6/2012 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật số 14/2012/QH13 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật. Luật này quy định quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định “Ngày 09 tháng 11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội.” Như vậy Quốc hội khóa 13 đã chính thức quy định ngày 09/11 hàng năm là “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật của toàn dân.

Sau khi Luật phổ biến giáo dục pháp luật được thông qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến và giáo dục pháp luật, trong đó, các nội dung và hình thức tổ chức “Ngày Pháp luật” đã được quy định cụ thể tại Điều 6 của Nghị định này, đây là căn cứ pháp lý để việc triển khai Ngày pháp luật được thống nhất, hiệu quả trong mọi cơ quan, tổ chức. Các nội dung được tổ chức trong Ngày pháp luật Việt Nam như:

  • Khẳng định vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý nhà nước và đời sống xã hội;
  • Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người dân ý thức tôn trọng và chấp hành kỷ luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật;
  • Tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực đối với đời sống của nhân dân, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị;
  • Vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;
  • Biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật;
  • Các nội dung khác theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

Ngày 9/11 - Ngày Pháp luật Việt Nam là một sự kiện chính trị, pháp lý được tổ chức hằng năm, với mục đích và ý nghĩa vô cùng quan trọng:

1. Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật.

2. Xây dựng niềm tin, hành vi ứng xử phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật.

3. Tăng cường công tác xây dựng, phổ biến giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

4. Hình thành, xây dựng và củng cố văn hóa pháp lý trong mọi hành vi.

Ngày Pháp luật thực sự là một dịp tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật rất hiệu quả. Việc tổ chức Ngày Pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú về nội dung, phù hợp điều kiện thực tế của từng địa phương, từng tổ chức, doanh nghiệp và theo giai đoạn phát triển của đất nước sẽ giúp cho những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến gần với người dân hơn và dễ dàng đi vào cuộc sống.

HƯỚNG TỚI NGÀY PHÁP LUẬT VIỆT NAM NĂM 2017

Năm 2013, lần đầu tiên Ngày Pháp luật Việt Nam được tổ chức trong phạm vi toàn quốc, với quy mô rộng lớn, thống nhất trên phạm vi cả nước, hoạt động này thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của các Bộ, Ngành, cơ quan, doanh nghiệp từ Trung ương đến địa phương và đã thực sự trở thành “Ngày hội thượng tôn pháp luật”, “Ngày hội Pháp lý của toàn dân”. Trong dịp này, các cơ quan, Bộ, Ngành, Đoàn thể sẽ đồng loạt triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến mọi tổ chức, đơn vị, cá nhân nhằm nâng cao ý thức bảo vệ pháp luật, tôn trọng và chấp hành Hiến pháp, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. 

Qua 04 năm (2013-2016) tổ chức, Ngày pháp luật Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội, trong đó có đông đảo CBCNV ngành Dầu khí và Công ty BSR; bước đầu tạo sự chuyển biến tích cực về việc nâng cao nhận thức pháp lý, ý thức tuân thủ và bảo vệ pháp luật trong CBCNV/Người lao động.   

   

Chủ đề Ngày pháp luật năm 2017: Tiếp tục nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật; tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; phát huy dân chủ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền lợi cho cán bộ, nhân viên và người lao động”.

Ngày Pháp luật Việt Nam năm nay tập trung vào việc tổ chức thi hành đầy đủ, nghiêm túc các quy định pháp luật gắn với xây dựng, hoàn thiện thể chế; tổ chức thi hành và bảo vệ pháp luật; giáo dục ý thức và lợi ích của việc tôn trọng, tuân thủ, chấp hành pháp luật; xây dựng, bồi dưỡng, nhân rộng gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật; cải cách hành chính, cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp; phê phán, đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật và lệch chuẩn xã hội; nâng cao ý thức trách nhiệm của CBCNV/Người lao động; phát huy tinh thần gương mẫu tuân thủ, chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên.

Hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2017, thực hiện chỉ đạo của Tập đoàn Dầu khí Việt nam tại Quyết định số 6426/QĐ-DKVN ngày 09/10/2017 về việc triển khai Ngày pháp luật Việt Nam, Công ty Lọc - Hóa dầu Bình Sơn đã xây dựng Kế hoạch triển khai Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2017 tại Công ty và đơn vị thành viên với các hoạt động thiết thực, hữu ích phù hợp với tình hình thực tế của Công ty (đa số CBCNV làm việc theo ca/kíp) như: tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của Ngày Pháp luật; vị trí, vai trò của Hiến pháp; phổ biến các văn bản liên quan đến hoạt động SXKD, đầu tư của doanh nghiệp; các quy định về quyền con người, quyền công dân và quyền lao động; treo băng rôn khẩu hiệu về Ngày Pháp luật, tổ chức hội thảo chuyên đề,...

Đây sẽ là những hoạt động rất thiết thực giúp cho Lãnh đạo, CBCNV/người lao động trong Công ty hiểu sâu sắc hơn về Ngày Pháp luật, đảm bảo mọi hoạt động của Công ty luôn tuân thủ pháp luật đồng thời góp phần nâng cao văn hóa pháp lý và thái độ xử sự đúng đắn theo pháp luật của mỗi CBCNV/người lao động.

NGHỊ QUYẾT CỦA CHÍNH PHỦ VỀ HỖ TRỢ VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP ĐẾN NĂM 2020

Để hoàn thành các Mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 đã được Quốc hội thông qua, Việt Nam phải đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển kinh tế xã hội, trong đó doanh nghiệp là động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh.

Ngày 16/5/2016, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020. Mục tiêu của Nghị quyết hướng đến năm 2020 xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững, cả nước có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp quy mô lớn, nguồn lực mạnh.

Một số nội dung quan trọng, nổi bật của Nghị quyết liên quan đến doanh nghiệp (DN) như sau:

  • Nguyên tắc hỗ trợ và phát triển DN đến năm 2020:
  • Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, DN; DN có quyền tự do kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm.
  • Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật liên quan đến DN theo hướng lấy DN là đối tượng phục vụ, tạo thuận lợi cho DN đầu tư, kinh doanh và phát triển.
  • Nhà nước bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường kinh doanh; bảo đảm quyền bình đẳng cho tất cả các DN; có chính sách đặc thù để hỗ trợ DN nhỏ và vừa, DN khởi nghiệp, DN đổi mới sáng tạo.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước khi ban hành và thực thi chính sách phải bảo đảm xác định rõ người chịu trách nhiệm; các quy định về điều kiện kinh doanh phải rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện.
  • Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cần bảo đảm mục tiêu ngăn chặn, phát hiện và xử lý vi phạm, đồng thời hỗ trợ, hướng dẫn DN tuân thủ các quy định của pháp luật.
  • DN phải ý thức tuân thủ pháp luật, thực hiện liêm chính trong kinh doanh; xây dựng văn hóa và trách nhiệm xã hội của DN; cạnh tranh lành mạnh, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh.
  • Không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự; đồng thời xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật.
  • Nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện:

Về cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp:

  • Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan nghiêm túc thực hiện các chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo điều kiện cho DN giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước…
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
  • Tổ chức đối thoại công khai định kỳ ít nhất hai lần/năm với cộng đồng DN, báo chí để kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN.
  • Thành lập và công khai đường dây nóng, hỏi đáp trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố để tiếp nhận phản ánh và giải đáp cho DN.
  • Đẩy mạnh triển khai thực hiện hiệu quả cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước; hướng dẫn, giải thích cụ thể, rõ ràng cho DN các thủ tục hành chính (Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 23/5/2015).
  • Quán triệt tinh thần chính quyền phục vụ, hỗ trợ DN; chống quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu; thủ trưởng đơn vị phải chịu trách nhiệm về vi phạm của cán bộ công chức.

Giải pháp bảo đảm quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp:

  • Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện:
  • Tháo gỡ khó khăn về thuế cho DN; xử lý nợ chậm nộp cho DN gặp khó khăn khách quan…;
  • Giảm 50% thuế thu nhập cá nhân đối với lao động Công nghệ thông tin thuộc lĩnh vực công nghệ cao;
  • Rà soát, đề xuất sửa đổi quy định về các loại thuế, quản lý thuế, hải quan;
  • Thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp tái cấu trúc thị trường chứng khoán; phát triển thị trường trái phiếu DN, thúc đẩy cổ phần hóa.
  • Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện:
  • Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ các quy định hiện hành về chính sách cấp phép xuất nhập khẩu, quản lý thị trường… theo hướng tạo thuận lợi, giảm chi phí cho DN theo đúng các cam kết quốc tế;
  • Xây dựng Chiến lược tổng thể phát triển thị trường trong nước giai đoạn đến 2025, tầm nhìn đến 2035;
  • Cung cấp, phổ biến các hướng dẫn thực thi cam kết trong khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế (ASEAN, WTO, APEC, ASEM...) và các hiệp định kinh tế - thương mại, đặc biệt là các hiệp định - thương mại tự do (AEC, TPP, RCEP…).

Về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp:

  • Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Kiểm toán Nhà nước và các Bộ, cơ quan liên quan:
  • Rà soát, sửa đổi, ban hành hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, đặc biệt là thanh tra chuyên ngành;
  • Công khai trước kế hoạch thanh tra, kiểm tra và kiểm toán DN để tránh trùng lặp, chồng chéo; không thanh tra, kiểm tra khi không có căn cứ theo quy định của pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực về quản lý thuế
  • Bộ Công an rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định về an ninh, an toàn xã hội; không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự. Tạo môi trường lành mạnh, an toàn để DN kinh doanh theo đúng pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VỀ PHƯƠNG ÁN CẮT GIẢM, ĐƠN GIẢN HÓA ĐIỀU KIỆN ĐẦU TƯ, KINH DOANH THUỘC LĨNH VỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN 2017-2020

Ngày 20/9/2017 Bộ Công thương đã ban hành Quyết định số 3610A/QĐ-BCT về phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công thương giai đoạn 2017-2020. Nội dung tại Quyết định này phù hợp với Chủ đề Ngày pháp luật Việt Nam năm 2017 “Tiếp tục nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật; tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; phát huy dân chủ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền lợi của cán bộ, nhân viên và người lao động”.

Việc cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện sản xuất, kinh doanh nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

  • Nguyên tắc rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư, kinh doanh:
  • Chuyển đổi phương thức quản lý nhà nước bằng việc chuyển dần sang hậu kiểm trong xây dựng, thực hiện các điều kiện kinh doanh;
  • Tính đến các điều kiện gia nhập thị trường theo các cam kết quốc tế khi xây dựng, thực hiện điều kiện đầu tư kinh doanh;
  • Điều kiện đầu tư, kinh doanh phải đáp ứng các tiêu chí theo quy định tại Điều 7 Luật Đấu tư 2014 (Điều 7 Luật Đấu thầu quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện);
  • Phải đánh giá, xem xét tính khả thi, các điều kiện nguồn lực của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, xem xét khả năng phân cấp trong công tác quản lý và thực hiện;
  • Phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh cần phải gắn với công tác cải cách hành chính, đặc biệt là công tác cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính.
  • Phương án cắt giảm đối với ngành nghề kinh doanh xăng dầu và ngành nghề kinh doanh khí:

+ Ngành nghề kinh doanh xăng dầu:

  • Số lượng điều kiện ban đầu: 43
  • Số lượng điều kiện đề xuất cắt giảm: 5

+ Ngành nghề kinh doanh khí:

  • Số lượng điều kiện ban đầu: 129
  • Số lượng điều kiện đề xuất cắt giảm: 76
  • Số lượng điều kiện đề xuất chuyển sang hậu kiểm: 06
  • Tổng số lượng điều kiện đề xuất cắt giảm (đã bao gồm số lượng điều kiện chuyển sang hậu kiểm): 82 điều kiện.

ĐIỂM MỚI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG

Nội dung quy định tại Điều 162 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung) có ý nghĩa thiết thực liên quan đến quyền lợi của Người lao động. Đây cũng là một trong những nội dung phù hợp với Chủ đề Ngày pháp luật Việt Nam năm 2017 về bảo vệ quyền lợi của cán bộ nhân viên, người lao động.

Kể từ ngày 01/01/2018, người sử dụng lao động nếu vi phạm quy định này sẽ phải chịu chế tài về hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cụ thể như sau:

“Điều 162. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật

  1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

    b) Sa thải trái pháp luật đối với người lao động;
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

c) Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;

d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác.

  1. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Như vậy, chế tài đối với tội danh này tại Bộ luật Hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) nặng hơn quy định hiện hành tại Điều 128 Bộ luật Hình sự 1999 (mức phạt tù tối đa nâng từ 01 năm lên thành 03 năm).

CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÔNG DÂN TRONG HIẾN PHÁP 2013

So với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp 2013 có nhiều điểm mới quan trọng và ý nghĩa, trong đó phải kể đến các điểm mới về QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN.

Các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được bố trí tại Chương 2 -  ngay sau các quy định về thể chế chính trị, điều này khẳng định giá trị cốt lõi trong Hiến pháp của một nhà nước pháp quyền, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

  • Về nguyên tắc: Hiến pháp 2013 đã quy định rõ ràng các nguyên tắc sau:

Điều 14: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Điều 15: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.

Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác.

Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội.

Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.

Điều 16: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật;

Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”

  • Về “công dân Việt Nam”:

 Hiến pháp 2013 đã có quy định rõ ràng, chi tiết hơn so với Hiến pháp 1992:

“Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam là người có quốc tịch Việt nam.

Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.

Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ” (Điều 17).

  • Về quyền sống:

Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật(Điều 19) - Đây là quy định hoàn toàn mới so với Hiến pháp 1992, khẳng định giá trị nhân văn cao cả đồng thời khẳng định Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các cam kết quốc tế về nhân quyền. Việc quy định về quyền sống tại Hiến pháp 2013 một lần nữa khẳng định luận điểm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc."

  • Về quyền hiến xác:

Hiến pháp 2013 ghi nhận và tôn trọng quyền tự quyết của mỗi con người đối với chính cơ thể họ mà không ai có quyền cản trở hoặc ép buộc: “Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm.” (Khoản 3 Điều 20)

  • Về đời sống riêng tư:

Hiến pháp 2013 quy định cụ thể, rõ ràng, khẳng định một cách mạnh mẽ về việc tôn trọng đời sống riêng tư của cá nhân, theo đó:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn;

Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác;

Không ai được bóc mở, kiểm soát thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác(Điều 21).

  • Về quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân:

Một lần nữa quan điểm “Nhà nước của dân, do nhân dân, vì nhân dân” được khẳng định khi Nhà nước tạo điều kiện cho công dân của mình tham gia quản lý nhà nước:

Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân(Điều 28)

“Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29)

  • Về quyền tự do kinh doanh:

Hiến pháp 2013 đã quy định “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm(Điều 33) - đây là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để mọi công dân được hưởng thực quyền của mình trong lĩnh vực kinh tế.

  • Về an sinh xã hội:

Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội(Điều 34).

Đây chính là cơ sở hiến định để công dân bảo đảm có được thu nhập tối thiểu nhằm thoát khỏi tình trạng nghèo đói khi không có việc làm, không có thu nhập. Để mọi công dân được bảo đảm quyền này, khoản 2 Điều 59 Hiến pháp quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”.

Các quy định về bảo đảm an sinh xã hội tại Hiến pháp 2013 thể hiện bước phát triển mới về quyền của công dân về an sinh xã hội nhằm tạo sự bình đẳng về cơ hội tham gia cũng như sự thụ hưởng của mọi thành viên trong xã hội, góp phần hiện thực hóa các quyền xã hội của mọi người dân.

  • Các quyền khác:

Bên cạnh quyền sống, con người còn cần đến nhu cầu và điều kiện để phát triển. Quyền được phát triển gắn liền với việc tiếp cận, nghiên cứu, thụ hưởng các giá trị vật chất, tinh thần và những thành quả của khoa học - công nghệ, văn học, nghệ thuật, các giá trị văn hóa. Chính vì vậy, Hiến pháp 2013 quy định “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó(Điều 40); “Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa(Điều 41).

Điều 42 Hiến pháp 2013 quy định “Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp”. Đây là quy định mới thể hiện sự đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Việt Nam là một nước đa dân tộc nên quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ và tự lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu và chính đáng.

Như vậy, tiếp thu tinh thần về quyền con người trong hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đã dành 37 điều ở Chương II trên tổng số 120 điều của Hiến pháp cho việc chế định trực tiếp các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ngay sau Chương I về thể chế chính trị (Hiến pháp 1992 quy định tại Chương V). Điều này thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập hiến và thay đổi trong nhận thức lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; khẳng định vai trò quan trọng của quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thể hiện rõ hơn, đầy đủ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người và đề cao nguyên tắc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

Các văn bản liên quan đến Ngày Pháp luật Việt Nam.

  1. Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
  2. Luật số 14/2012/QH13 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật.
  3. Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/4/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật.
  4. Quyết định số 6426/QĐ-DKVN ngày 09/10/2017 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc ban hành Kế hoạch triển khai “Ngày pháp luật Việt Nam” trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam.
  5. Quyết định số 4322/QĐ-BSR ngày 31/10/2017 của Công ty về việc ban hành Kế hoạch triển khai Ngày pháp luật Việt Nam năm 2017 trong Công ty TNHH một thành viên Lọc - Hóa dầu Bình Sơn.
Tin liên quan
Bản tin pháp lý tháng 10/2017

Bản tin pháp lý tháng 10/2017

Nội dung bản tin pháp lý tháng 10/2017.
Bản tin pháp lý tháng 09/2017

Bản tin pháp lý tháng 09/2017

Một số văn bản pháp lý đã ban hành tháng 9/2017
Bản tin pháp lý tháng 08/2017

Bản tin pháp lý tháng 08/2017

NỘI DUNG BẢN TIN PHÁP LÝ CỦA BSR THÁNG 08 NĂM 2017